Trích Hồi ký Mấy chặng đường của PGS Nguyễn Quốc Lộc.

TS. Nguyễn Đính sưu tầm và biên tập

ĐẠI HỌC HUẾ NHỮNG NĂM THÁNG ĐẦU SAU 1975 1- Tiếp quản Viện Đại học Huế Ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm ngày sau (ngày 5-5-1975), tôi được Trung ương ra quyết định điều về Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế đi nhận công tác mới. Quyết định được thực hiện rất khẩn trương, ghi rõ: “ngày 6-5-1975 phải có mặt tại Trường Tổng Công đoàn (Đống Đa)”. Tôi lại xa gia đình, tạm biệt những người thân yêu sau hơn nửa năm về nước. Công việc chuẩn bị cho một đoàn cán bộ đi B trước đây phải cả tháng, nay chỉ có vài buổi vì tình hình ở miền Nam diễn biến và phát triển rất nhanh. Chúng tôi được nhận đầy đủ mọi trang bị như một chiến sĩ Quân giải phóng đi chiến trường B, gồm: quân phục, mũ tai bèo, bi đông, võng dù, lương khô, thuốc men. Có cả súng đạn để tự bảo vệ dọc đường đi. Trong hàng chục chiếc xe của binh trạm chở hàng trăm cán bộ đi vào miền Nam có một chiếc chở hai đoàn cán bộ vào tiếp quản đại học. Đó là đoàn vào Đà Nẵng với các anh Lý Ngọc Sáng, Trần Ngọc Chương, Phạm Doãn Hân, Nguyễn Thái Cán và đoàn vào Viện Đại học Huế gồm anh Lê Đình Phi và Nguyễn Văn Hạnh từ Trường Đại học Sư phạm, Nguyễn Sĩ Hồng từ Trường Đại học Bách khoa, Hoàng Đức Đạt, Ngô Thị Thuận và tôi – Nguyễn Quốc Lộc từ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Xe chuyển bánh. Một cảnh tượng diễn ra trước mắt tôi thật cảm động: Vợ tôi đang mang bầu đứng nhìn theo lưu luyến, còn đứa con trai năm tuổi của tôi khóc và chạy theo xe đòi giữ ba nó lại. Trên đường đi các anh chị trong đoàn thường nhắc lại hình ảnh này. Chiều hôm đó chúng tôi đến Huế. Một chiếc trong đoàn xe của binh trạm dừng lại ở đầu cầu Bạch Hổ mấy phút rồi tiếp tục chạy về phía Phú Bài. Chúng tôi trong bộ quân phục giải phóng, đội mũ tai bèo và hành lý chỉ có một chiếc ba lô, xuống xe ngỡ ngàng. Không có ai đón cũng không biết đến đâu trước tiên. Xung quanh vắng lặng. Thấp thoáng sau cánh cửa mấy ngôi nhà gần đấy những đôi mắt dò xét. Lúc ấy vào khoảng 5 giờ chiều. Các anh Hoàng Đức Đạt, Lê Đình Phi, Nguyễn Sĩ Hồng và Phạm Doãn Hân được phân công đi bắt liên lạc với Ủy ban Quân quản. Anh Hân trong danh sách đi Đà Nẵng được Bộ cho phép dừng lại Huế, và sau công tác luôn ở Huế. Anh Nguyễn Văn Hạnh, chị Ngô Thị Thuận và tôi ngồi trông coi đồ đạc. Một chiếc xe jeep ra đón. Theo đề nghị của chúng tôi, anh tài xế cho đi qua mấy đường chính của thành phố Huế trước khi về “Cư xá giáo sư” ở số 2 đường Lê Lợi. Trong đoàn chỉ có tôi là người đầu tiên đến Huế. Các anh chị trong đoàn đều sinh ra ở Huế hoặc gần Huế, đã biết Huế. Những hình ảnh đầu tiên của Huế vừa được giải phóng in đậm vào tâm trí tôi: dòng sông Hương, cửa Ngọ Môn, chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiền, đại lộ Lê Lợi xinh đẹp. Ngày hôm sau chúng tôi được đi thăm các cơ sở của Viện Đại học Huế: Tòa Viện trưởng ở số 3 Lê Lợi, đối diện với “Cư xá giáo sư”, Trường Đại học Luật Khoa ở số số 4 Lê Lợi, Thư viện Đại học ở 20 Lê Lợi, Trường Đại học Văn Khoa và Trường Đại học Khoa học ở trong khu Morin, ngay đầu cầu Tràng Tiền, Trường Đại học Sư phạm ở 32 Lê Lợi. Các cơ sở này đều trên con đường Lê Lợi, dọc sông Hương, cách nhau chỉ vài trăm mét. Các cơ sở lúc này đều có những sinh viên là đoàn viên Thanh niên Nhân dân Cách mạng thường xuyên bảo vệ. Trước khi đoàn chúng tôi vào Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Thừa Thiên đã có quyết định thành lập Ban điều hành Viện Đại học Huế (23-4-1975). Trưởng ban là kỹ sư Tôn Thất Hanh, phó ban là anh Lê Phương Thảo nay là Lê Công Cơ, Bí thư Thành đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Huế . Các trường thành viên có các ban phụ trách trường. Và từ ngày 15-4-1975 trong khi Sài Gòn chưa được giải phóng thì ở Huế đã tái khai giảng năm học 1974-1975 với đông đảo sinh viên đến học lại. Tôi chính thức giữ chức vụ cố vấn Ban phụ trách Trường Đại học Văn khoa Huế ngày 1-6- 1975. Ban phụ trách gồm các cựu giáo viên của trường, với Trưởng ban là TS.Thái Thị Ngọc Dư. Hai phó ban là anh Lê Khắc Cầm (giáo viên Anh văn) và Trần Như Cảnh (giáo viên Pháp văn). Nhân viên của Trường Đại học Văn Khoa trở lại làm việc gần đông đủ. Hằng ngàn sinh viên đến trường dự lễ tái khai giảng năm học từ ngày 15 tháng 4, nay ngày càng đông. Cả khu Morin hai tầng với hằng trăm phòng lớn nhỏ suốt ngày nhộn nhịp. Những lớp đang học. Những lớp đang nghe báo cáo chính trị. Rồi những buổi hội thảo, những buổi sinh hoạt đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng và Hội Liên hiệp Sinh viên giải phóng. Những bài hát cách mạng được lặp đi lặp lại. Báo tường, đặc san lớp nào cũng có. Phòng nào cũng treo ảnh Bác Hồ và khẩu hiệu “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”. Bầu không khí hồ hởi, phấn khởi tràn ngập cả trường, long lanh trên từng đôi mắt. Giáo chức của Trường Đại học Văn Khoa Huế cũng dần dần trở về, đến dự sinh hoạt và trở lại làm việc gần đông đủ. Ban Việt-Hán có các thầy Vương Hữu Lễ, Trần Như Uyên và Tôn Thất Bình. Ban Anh văn và Pháp văn có các thầy Bửu Ý, Đỗ Trinh Huệ, Huỳnh Hữu Hiệp, Phan Hoàng Quý, Trần Văn Phương, Nguyễn Tư Trừng… Ban Sử Địa có TS.Dương Đình Khôi và TS.Nguyễn Đức Tiến. Một trong những kỷ niệm đáng ghi nhớ ở Viện Đại học Huế sau giải phóng là các lớp học chính trị cho giáo chức và cho sinh viên. Những điều chưa nghe, chưa biết nay được biết. Những điều trước đây hiểu sai, nghĩ sai nay hiểu đúng, nghĩ đúng còn quan trọng hơn. Anh chị em cởi mở giãi bày, sôi nổi trao đổi và thu hoạch sau khi học. Và ai cũng nhận ra cái hành trang mới thật quí đối với mình trên con đường đi tới từ đây. Với tư cách cố vấn, tôi bàn công việc với Ban phụ trách trường, gặp gỡ thường xuyên với các giáo chức, nhân viên và tiếp xúc với các lớp sinh viên trẻ trung, sôi nổi. Tôi còn nhớ hồi ấy ở Phòng Hội đồng của Trường Đại học Văn khoa tôi đã nhiều lần trả lời câu hỏi lặp đi lặp lại là: – Có còn tồn tại trường Đại học Văn khoa ở Huế không và những giáo chức cũ có được tiếp tục giảng dạy không? Câu trả lời của tôi lúc ấy là: – Nhu cầu về đào tạo cán bộ khoa học xã hội ở miền Trung sẽ lớn và chắc chắn ở Huế phải có trường đại học để lo việc này theo kiểu Đại học Tổng hợp Hà Nội. Chính sách đối với giáo chức đã rõ, nhưng giảng dạy về khoa học xã hội có những khó khăn riêng. Cái đáng lo là anh chị em phải được bồi dưỡng để đủ sức gánh vác công việc. Tháng 7-1975, Ban Cán sự Đảng Viện Đại học Huế thành lập với Bí thư là anh Hoàng Đức Đạt. Tôi là ủy viên Ban Cán sự Đảng và được phân công làm Bí thư Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng Viện Đại học Huế, thường gọi là Viện Đoàn. Những ngày tháng đầu tiên đó tôi thường đến trụ sở Viện Đoàn, trao đổi công tác Đoàn với các bạn trẻ. Nhưng cái chính là để được ngắm nhìn và trò chuyện với những người mà tôi rất quí mến. Đó là những sinh viên kiên cường, dũng cảm đấu tranh chống Mỹ-Ngụy: những người liên lạc thông minh đưa cán bộ và quân giải phóng ra vào nội thành Huế, những người đứng ra hô hào xuống đường bãi khóa, tổ chức đấu tranh đốt cờ Mỹ ở Phòng Thông tin, đốt hình nộm Nguyễn Văn Thiệu ở Tòa Viện trưởng (3-Lê Lợi), những nữ sinh tuổi 18 đã hàng chục lần ném chai xăng vào xe tăng Mỹ, những người thức cả đêm “Hát cho dân tôi nghe”, những người bí mật chuẩn bị và tung ra đường phố cả vạn tờ truyền đơn chống Mỹ ngay trước mũi súng của kẻ thù. Những người đó giờ đây đang ngồi với tôi ở trụ sở Viện Đoàn: Lê Cát Tường, Lê Phước Chấm (sinh viên khoa học), Trần Quang Hải, Trần Văn Tuấn, Lê Văn Hưng (Văn khoa), Lê Văn Phùng (Luật Khoa)… Trong thời gian này tôi còn được Viện giao một nhiệm vụ nữa là giải quyết chuyển sinh viên của Đại học Luật khoa Huế vào học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có đến mấy trăm sinh viên được nhận hồ sơ đầy đủ, đúng thủ tục chuyển trường. Ngày 24-11-1975, tôi nhận Sự vụ lệnh số 100 ĐHH/TC/SVL cử giữ chức vụ Trưởng ban phụ trách Trường Đại học Văn khoa Huế thay thế TS. Thái Thị Ngọc Dư xin chuyển công tác vào Viện Đại học Sài Gòn. Trường Đại học Văn khoa Huế lúc này có nhiệm vụ phải hoàn tất đào tạo năm thứ 4 cho sinh viên vào tháng 2 năm 1976. Trường không tuyển sinh mới năm học 1975-1976 nhưng có lớp dự bị đại học dành cho diện chính sách. Số sinh viên sau khi nhận được giấy chứng nhận mãn khóa (chưa phải tốt nghiệp) được chuyển sang trường Đại học Sư phạm Huế để đào tạo thành giáo viên, đáp ứng cho yêu cầu của xã hội. Giữa năm 1976 tôi được cử giữ chức vụ Phó ban Phụ trách trường Đại học Sư phạm Huế do TS. Nguyễn Văn Hạnh làm Trưởng ban. Tôi phụ trách các lớp khoa học xã hội và trực tiếp giảng dạy môn phương pháp Sử học cho sinh viên lớp chuyển tiếp. Cán bộ ở miền Bắc vào lúc này có anh Lê Đình Liễn dạy Lịch sử Việt Nam, cô Vũ Thị Việt dạy Dân tộc học, cô Hoàng Thị Hoàng dạy Văn học thế giới, TS.Lê Văn Hảo phụ trách Thư viện Đại học cũng tham gia giảng dạy. Ngày 12-8-1976, kỳ thi tốt nghiệp đầu tiên của lớp chuyển tiếp tại Trường Đại học Sư phạm Huế được tổ chức trọng thể. Trong số tốt nghiệp có nhiều người từ Đại học Văn khoa Huế chuyển sang học. Đó cũng là thời gian, với tư cách Trưởng ban phụ trách Trường Đại học Văn khoa Huế tôi lo việc chuyển giao giáo chức, nhân viên và cơ sở vật chất sang Trường Đại học Sư phạm Huế. Công việc bàn giao đang được thực hiện: số nhân viên đã sang nhận công tác ở trường Đại học Sư phạm. Số giáo chức đã chuyển sang sinh hoạt, chỉ còn phòng tư liệu và trang thiết bị, đồ gỗ… thì còn ở Morin. 2- Thành lập Trường Đại học Tổng hợp Huế Giữa năm 1976, khi tôi đang làm nốt những công việc cuối cùng để chuyển cơ sở vật chất của Trường Đại học Văn khoa sang Đại học Sư phạm Huế thì anh Hoàng Đức Đạt nói với tôi: Có khả năng sẽ thành lập một trường Đại học Tổng hợp Huế. Anh chuẩn bị đề án về việc tổ chức các khoa xã hội của trường. Chủ trương chưa chính thức, nhiệm vụ được giao cũng chưa rõ, không có tài liệu hướng dẫn, tham khảo, không có ai để trao đổi bàn bạc… nhưng tôi đã làm xong trong thời gian rất ngắn bản đề án thành lập khoa Ngữ Văn và Khoa Lịch sử. Được biết, đề án về tổ chức các khoa khoa học tự nhiên do anh Hoàng Đức Đạt và anh Nguyễn Sĩ Hồng chuẩn bị. Ngày 27-10-1976, Thủ tuớng Chính phủ ban hành Quyết định số 426/TTg về một số vấn đề cấp bách trong mạng lưới các trường Đại học. Quyết định ghi rõ: “Trên cơ sở của những khoa của Viện Đại học Huế thành lập Trường Đại học Tổng hợp Huế (sáp nhập Văn khoa và khoa Khoa học) do Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quản lý”. Ban giám hiệu Trường Đại học Tổng hợp Huế ban đầu chỉ có hai người: anh Hoàng Đức Đạt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, tôi làm Phó Hiệu trưởng, được phân công phụ trách tổ chức và công tác chính trị tư tưởng. Về sau Bộ điều động anh Trần Ngọc Chương từ Đà Nẵng ra nhận nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất. Đây là trường Đại học Tổng hợp thứ ba trong cả nước lúc bấy giờ, sau Hà Nội và cùng với Thành phố Hồ Chí Minh. Trường Đại học Tổng hợp Huế có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học phục vụ các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Lúc thành lập trong trường đã có hơn 500 sinh viên thuộc các ngành Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Thủy lợi, Xây dựng ở ba khóa chuyển tiếp do Đại học Khoa học Huế để lại. Trường có nhiệm vụ tiếp tục đào tạo và đã chiêu sinh lớp dự bị đại học. Bộ máy tổ chức của nhà trường thời gian đầu được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ra quyết định cho thành lập 3 khoa ghép và 7 phòng, ban, trạm chức năng. Anh Hoàng Đức Đạt kiêm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Hóa-Sinh-Địa. Tôi kiêm Chủ nhiệm Khoa Văn-Sử. Khoa Toán-Lý do anh Nguyễn Sĩ Hồng làm Chủ nhiệm khoa. Với trọng trách là Bí thư Đảng ủy, một Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác tổ chức, cán bộ và chính trị tư tưởng của nhà trường vừa phải trực tiếp lo cho các ngành khoa học xã hội, tôi thấy nhiệm vụ thật nặng nề mà kinh nghiệm công tác quản lý, lãnh đạo chưa được tích lũy. Phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn học hỏi và hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, xây dựng khối đoàn kết nhất trí của tập thể, cùng nhau xây dựng nhà trường. Là một trường đại học đa ngành, một trường khoa học cơ bản, mới được thành lập, ở vùng mới giải phóng… nên có những đặc điểm, nhiều khó khăn trong buổi đầu xây dựng. Đặc biệt là công tác chính trị tư tưởng và nhiệm vụ tổ chức – cán bộ. Trong số gần 200 cán bộ nhân viên ban đầu khi nhà trường thành lập thì phần lớn giáo chức và hầu hết nhân viên là công chức của Viện Đại học Huế và Trường Đại học Khoa học cũ. Số giáo chức Đại học Văn khoa đưa sang Trường Đại học Sư phạm nay được chuyển về lại, trừ các giáo viên Anh văn và Pháp văn. Đó là do chúng tôi thống nhất với đề nghị có tình, có lý của anh Nguyễn Văn Hạnh, nhằm giúp trường Sư phạm bảo đảm được đào tạo trước mắt các môn học này. Ngày 10 tháng 2 năm 1977, tôi đã ký quyết định tiếp nhận số sinh viên Văn khoa mới tốt nghiệp về Trường Đại học Tổng hợp Huế gồm: Đỗ Bang, Phan Đăng, Nguyễn Hữu Thông, Trần Văn Tuấn và Huỳnh Thị Cận. Số cán bộ từ miền Bắc được Bộ điều động về làm việc tại trường Đại học Tổng hợp Huế ngày càng nhiều. Ngay trong năm 1977 đã có các anh chị phụ trách các phòng, ban chức năng của nhà trường: Trần Ngọc Thi, Lê Công Ty, Lê Quang Minh, Lê Quang Đệ, Phan Duệ, Dương Thị Quế, Nguyễn Viết Liêu, Phan Văn Khởi, Nguyễn Đình Đằng, Phan Thị Tiên. Sau đó một thời gian là: Hoàng Ngọc Vinh, Văn Nghi, Lê Duy Hanh, Nguyễn Duy Đường, Trần Mậu Thuận, Lê Thị Lành… Đó là những cán bộ cốt cán của nhà trường có nhiều đóng góp xây dựng nhà trường trên các mặt Tổ chức, Tuyên huấn, Giáo vụ, Tài vụ, Quản trị, Xây dựng, Y tế… từ những ngày đầu. Nhưng số cán bộ quản lý các khoa nhất là những nhà khoa học có kinh nghiệm quản lý và trình độ chuyên môn cao còn quá ít. Đây là một nhu cầu quan trọng phải được giải quyết sớm để tách ba khoa ghép ra thành bảy khoa chuyên ngành, để thành lập thêm khoa ngoại ngữ, bộ môn Mác-Lênin và để kết thúc việc kiêm nhiệm Khoa của Ban Giám hiệu. Khoa Văn – Sử ban đầu có anh Lê Đình Liễn, cô Vũ Thị Việt (Sử), anh Nguyễn Xuân Hòa, cô Trương Thị Thuyết, anh Nguyễn Đình Thảng (Văn). Anh Hồ Tấn Trai về nhận công tác Chủ nhiệm khoa Văn – Sử vào cuối năm 1977. Tôi thôi kiêm nhiệm chức Chủ nhiệm khoa Văn – Sử nhưng vẫn phụ trách tổ trưởng bộ môn dân tộc học. Tháng 10-1978, Bộ có quyết định cho thành lập Khoa Tại chức do anh Lê Trọng Đôn làm Chủ nhiệm khoa và anh Nguyễn Hồng Trân làm phó. Trước đó là Ban Dự bị (từ 1976) do anh Võ Văn Đạt phụ trách, rồi Ban Dự bị-Tại chức. Bộ môn ngoại ngữ hình thành từ 1977 đến năm 1978, Bộ quyết định thành lập Khoa với ba bộ môn Nga văn, Anh văn và Pháp văn do anh Phạm Cung Quế làm chủ nhiệm khoa và anh Hải làm Phó Chủ nhiệm. Các ngành Hóa, Sinh, Địa được tăng cường nhiều nhà khoa học từ miền Bắc vào và ở nước ngoài về: anh Hoàng Đức Triêm (Địa lý), các anh Trương Văn Lung, Trần Duy Nga, Phan Anh (Sinh học), chị Trương Thị Tường Vi, anh Lê Văn Hinh và anh Lê Bá Thừa (Hóa) học ở Cộng hòa dân chủ Đức về. Đến năm 1980 khoa Hóa-Sinh-Địa tách ra làm ba khoa. Khoa Toán – Lý với các anh Nguyễn Sĩ Hồng và Nguyễn Đống có mặt từ khi mới thành lập trường, đến năm 1985 mới tách thành hai khoa Toán Cơ và Vật Lý. Năm 1978 số cán bộ nhân viên toàn trường tăng lên hơn 230 người, trong đó riêng cán bộ giảng dạy tăng gấp đôi, từ 70 lên 134 người. Đó là bước tiến quan trọng về tổ chức các đơn vị đào tạo của nhà trường trong một thời gian rất ngắn. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, nhất là Vụ Tổ chức-Cán bộ của Bộ đã rất quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ nhà trường. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tích cực hỗ trợ cho trường Đại học Tổng hợp Huế anh em trong việc san sẻ cán bộ và chọn nhiều sinh viên tốt nghiệp xuất sắc đưa vào Huế xây dựng đội ngũ lâu dài. (Còn tiếp) Trích Hồi ký Mấy chặng đường của PGS Nguyễn Quốc Lộc, nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Huế. Nguyễn Đính sưu tầm và biên tập 02/3/2022. Các Thầy Viện trưởng đầu tiên Lễ Tốt nghiệp Ban Lý Hoá – Đại học Sư phạm Huế năm 1962. Trao bằng Tốt nghiệp Đại học khoá năm 1974 tại Toà Viện trưởng nay là trụ sở Đại học Huế, số 3 Lê Lợi, TP Huế.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *