NHỚ HUẾ VÀ NHỚ KHOA NGỮ VĂN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ!

Vũ Khắc Chương

(Sinh viên khóa 1986-1990)

Ngày 30/4 sắp tới, lớp tôi gặp nhau tại Huế, cũng là ngày hội Khoa và hội trường. Tôi mong sao các thầy cô của tôi ngày gặp lại vẫn còn sức khỏe. Tôi mong sao chúng tôi được ngồi lại nơi phòng học cũ của lớp mình ngày xưa sát văn phòng khoa một lần và được ngước nhìn các thầy cô tôi đứng trên bục giảng trước đám học trò mái tóc điểm sương…

—-————————————————————————————————————–

Mới đó mà đã 32 năm tôi xa Huế!

Ngày ấy tốt nghiệp đại học Sư phạm Ngữ Văn, tôi từ Huế về quê tại Tam Dân, Tam Kỳ, Quảng Nam rồi vào Sài Gòn lập nghiệp. Không ngờ tôi đã ở lại phương Nam mấy mươi năm. Nhưng xa Huế và xa quê cha đất Quảng lại càng thấy nhớ xứ sở thần kinh không thể nào quên!

Nhớ Huế những ngày đầu tiên từ quê ra Huế thi đại học, tôi ngẩn ngơ trước vẻ đẹp sông Hương núi Ngự, lăng tẩm chùa chiền và bao cảnh vật như tranh vẽ ở nơi đây! Khi học đại học ở Huế bốn năm, được đến nhiều địa danh Huế, tôi càng thấy mình may mắn khi có nghiệp đèn sách tại Huế. Sau này, ra đời lập nghiệp, được đi nhiều thành phố đẹp mê hồn trên thế giới, tôi vẫn thấy vẻ đẹp thành phố Huế có những nét riêng không lẫn vào đâu được. Có lẽ tôi yêu quí vẻ đẹp Huế vì đây là vùng đất của ký ức, của những năm tháng đẹp nhất cuộc đời tôi.

Nhớ Huế, tôi luôn nhớ đến bao thầy cô tận tụy với chúng tôi. Hai thầy hiệu trưởng: thầy Lê Đình Phi và thầy Nguyễn Thế Hữu. Thầy Hữu sau này là Giám đốc Đại học Huế. Khi nghỉ hưu, thầy là Bí thư chi bộ đầu tiên của trường cao đẳng Văn hoá nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn. Hiện nay, thầy Hữu cùng với Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh (Trưởng ban phụ trách Viện Đại học Huế 1975 -1977, Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Huế 1977 – 1981) là Cố vấn của trường.

Các thầy trưởng khoa Ngữ Văn lúc ấy là thầy Trần Văn Hối và thầy Trần Hữu Duy. Hai thầy giờ đã cưỡi hạc qui tiên nhưng phong thái, sự uyên bác và tấm lòng của hai thầy với bao thế hệ sinh viên vẫn luôn được chúng tôi ghi nhớ.

Cô giáo phụ trách giáo vụ khoa Võ Tiểu Kiều cũng là người cô được bao thế hệ sinh viên yêu thương vì sự tận tụy, ân cần và quan tâm sinh viên!

Các giáo viên chủ nhiệm lớp chúng tôi là thầy Trần Hoàng, thầy Phạm Bá Thịnh, thầy Lê Văn Điền, thầy Trần Hữu Phong, cô Phan Quỳnh Nga. Ơn các thầy cô sâu như biển cao như núi chúng em không thể nào quên!

Những năm tháng ấy, các thầy cô trong khoa chúng tôi không nhiều. Cô Bích Hải, cô Bích Lộc, cô Bạch Nhạn, thầy Nguyễn Văn Phúc, thầy Nguyễn Xuân Tự, thầy Hoàng Dũng, thầy Trương Dĩnh, thầy Trần Đại Vinh, thầy Ngô Thời Đôn, thầy Hoàng Huy Lập, thầy Nguyễn Quốc Dũng, cô Lê Thị Hường, thầy Phan Ngọc Thu, thầy Đoàn Hồng, cô Hoàng Thị Bổng, cô Thu Vân, cô Xuân Vinh, thầy Quỳnh, thầy Bửu Nam, thầy Nguyễn Phong Nam, thầy Trần Hữu Phong, thầy Tôn Thất Dụng, thầy Lê Tiến Dũng, thầy Hoàng Đức Khoa, thầy Trần Thái Học và còn những thầy cô tôi chưa kịp nhắc đến… Các thầy cô tôi vừa nêu tên có người dạy chúng tôi một bộ môn hoặc một chuyên đề và có người chưa dạy tôi giờ nào nhưng tất cả đều rất gần gũi như những người thân quen!

Trong những thầy cô ấy, tôi nhớ nhất cô Phan Quỳnh Nga và cô Nguyễn Thị Bích Hải. Cô Quỳnh Nga là giáo viên chủ nhiệm chúng tôi năm cuối khoá, cô dạy phần văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 và là người hướng dẫn luận văn tốt nghiệp Thi pháp “Sống mòn” cho tôi. Cô đã gần gũi và động viên giúp tôi tập tành nghiên cứu khoa học và bước vào đời.

Cô Bích Hải là cô giáo chúng tôi rất ngưỡng mộ về sự hiểu biết văn học Trung Quốc và về nhiều vấn đề khác thuộc lĩnh vực lý luận văn học còn mới mẻ như phong cách học, thi pháp học… Các vấn đề khó hiểu được cô giải thích thật đơn giản, dễ hiểu. Cô còn là người biết lý số độn giáp. Ngày tôi tốt nghiệp, cô hướng tôi nên vào Nam lập nghiệp. Mấy mươi năm trôi qua tôi càng thấy lời khuyên của cô có lẽ không sai!

Nhớ về Huế,  tôi còn nhớ những bè bạn cùng lớp từ Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, từ khắp nơi về Huế đèn sách bút nghiên.

Ba mươi hai năm trôi qua, lớp chúng tôi có người công thành danh toại, có người tiền của không kể xiết nhưng cũng có không ít người chỉ đủ ăn đủ mặc, thậm chí vẫn bị cái nghèo cái khổ đeo bám đến tận hôm nay… Nhưng chúng tôi vẫn mãi là những người bạn gắn bó với nhau.

Ba mươi hai năm trôi qua, ba người bạn của lớp đã rời xa mãi mãi để lại cho mỗi chúng tôi những thổn thức không nguôi. Dẫu biết sống chết là số mạng nhưng hai bạn ra đi khi tóc còn xanh, tuổi còn trẻ nên vẫn xót thương vô hạn. Và một bạn mới đi xa vào một ngày mưa gió mịt mùng… Xin được thắp lên những nén tâm hương tiễn đưa ba bạn về nơi xa thẳm!

Những người bạn của tôi, giờ đi khắp nơi trên đất nước, có bạn vẫn ở Huế, có bạn về lại quê xưa Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam. Có vài bạn vào tận nơi xa xôi, vào miền Nam lập nghiệp mưu sinh.

Bên cạnh những người bạn cùng khoá cùng khoa, tôi còn có những bạn cùng khoa khác khoá và nhiều bạn khoa khác cùng khoá và khác khoá vẫn thân thiết sau bao năm trôi qua. Họ là những thân hữu trong cuộc đời đầy biến cố của chúng tôi!

Nhớ Huế, tôi không quên bao nhiêu người đi qua cuộc đời tôi trong một thời gian ngắn. Đó là tình cảm gia đình chú Hồ Văn Mạnh, nơi tôi đã ở trọ suốt bốn năm, là tấm lòng vợ chồng người bà con Võ Lực nơi đường Phan Đăng Lưu. Những gia đình này đã giúp đỡ tôi nhiều trong những năm tháng đại học, khi cái nghèo cái khổ đang bủa vây chúng tôi!

Các bạn lớp tôi, sinh viên Ngữ Văn khoá 1986-1990, đã bước vào cái tuổi 55, 56. Tôi sống ở quê tôi: Tam Dân, Tam Kỳ hai mươi năm; ở Sài Gòn ba mươi hai năm. Thời gian ở Huế thì chỉ bốn năm nhưng sao mỗi con người, mỗi cảnh vật, mỗi kỷ niệm của thời gian ấy, tôi không thể nào quên. Nhớ những buổi sáng trời lạnh buốt xương đạp xe từ nhà trọ 152 Chi Lăng qua cầu Trường Tiền mưa dầm đến ngôi trường đẹp nhất miền Trung bên bờ sông Hương. Nhớ những ngày đi bóc tôm cả lớp ai nấy đều còn vương mùi tôm đến hai ba ngày. Nhớ quãng thời gian thao trường học quân sự và thi bắn súng thật. Nhớ hội thi giảng, thi đọc thơ và kể chuyện mỗi năm một lần và phần thưởng chỉ là một cuốn sách. Nhớ mỗi lần tập văn nghệ dân gian minh họa cho giờ dạy và những đêm tập văn nghệ hội diễn toàn khoa, toàn trường hàng năm. Một lần tiết mục múa “Triệu đóa hoa hồng” của tôi và cô bạn Cao Thị Xuân Phượng được biểu diễn toàn tỉnh tại nhà hát thành phố làm cả lớp tôi sục sôi kéo quân ra nhà hát…

Tất cả đều như mới diễn ra ngày hôm qua, như chưa hề có một quãng thời gian ba mươi hai năm đã trôi qua, dù tóc mỗi chúng tôi đều đã bạc màu thời gian..

Ngày 30/4 sắp tới, lớp tôi gặp nhau tại Huế, cũng là ngày hội Khoa và hội trường. Tôi mong sao các thầy cô của tôi ngày gặp lại vẫn còn sức khỏe. Tôi mong sao chúng tôi được ngồi lại nơi phòng học cũ của lớp mình ngày xưa sát văn phòng khoa một lần và được ngước nhìn các thầy cô tôi đứng trên bục giảng trước đám học trò mái tóc điểm sương…

Huế ơi và Khoa Ngữ Văn ơi, nhớ lắm và thương lắm!

Sài Gòn tháng tư năm 2022

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *