Thơ nữ miền nam trước 1975: Những “hóa thân” để vinh danh nữ giới

Do đặc điểm tiếp cận nhanh nền văn hoá và tư tưởng phương Tây, nên từ đầu thập niên 1950 và nhất là sau 1954, khu vực phía Nam đã xuất hiện nhiều nhà thơ nữ. Họ sáng tác với nhiều đề tài đa dạng, tập trung nhất vẫn là tình yêu và thân phận cô đơn của con người. “Hoá thân” như một đặc điểm của các nhà thơ nữ hoặc những người ký bút danh nữ. Bài viết đi sâu phân tích những biểu hiện “hoá thân” của một số các nhà thơ nữ hàng đầu tại miền Nam lúc này, từ Tuệ Mai, Nhã Ca, Hoàng Hương Trang, đến lớp kế tiếp như Lệ Khánh, L.L.Lan, Hồng Khắc Kim Mai, Tần Vy… Các cảm xúc về tình yêu, tình dục… của họ đều muốn khẳng định về sự cần thiết có mặt của giới nữ trong đời sống và quyền bình đẳng sáng tạo văn chương. Điều thú vị trong giai đoạn từ sau 1963-khi cuộc chiến tranh mở rộng, là sự xuất hiện của nhiều cây bút thơ giả danh là nữ. Lý do được phân tích là họ đang trốn lính, hoặc đang đào ngũ, phải lấy bút danh nữ để khỏi bị lộ (khỏi bị bắt đi lính). Hiện tượng này không kéo dài. Và các nhà thơ nữ “thứ thiệt” thường không có thời gian sáng tác lâu dài. Bài viết không đi vào phân tích nguyên do, thay vào đó là ý kiến cần thiết phải vinh danh các họ!

Từ khóa: thơ nữ, trước 1975, “hóa thân”, vinh danh

Giữa rừng hoa đại ngàn đôi khi xuất hiện những bông hoa lạ. Lộng lẫy hoặc kín đáo khác thường. Trong thế giới thực vật, có thể là do sự chuyển hoá, hoặc di nhập giống tình cờ từ gió đưa, chim nhả hạt…Định danh một loài hoa mới, phải mất nhiều thời gian. Ở cõi người ta, sự có mặt các “nhà thơ nữ”, hình như cũng vậy!

Nước Việt ta, từ khi xuất hiện chữ viết riêng (đầu tiên là chữ Nôm), đã có những phụ nữ để lại những tác phẩm bất hủ. Nhưng cũng như trên khắp thế giới, tỷ lệ này vẫn luôn ít ỏi. Nam kỳ vốn là đất thuộc địa của Pháp, sớm có sinh hoạt báo chí phát triển. Nên trước 1954 qua những năm ‘60 của thế kỷ 20, nhất là từ sau biến cố 1963 đến 1975, nhiều cây bút nữ xuất hiện cùng lúc, đã tạo nên luồng gió mới trong sinh hoạt văn chương. Trong lãnh vực thi ca, từ đầu thập kỷ ’50, cũng đã có nhiều nhà thơ nữ mang bản sắc riêng. Nhưng rồi số lượng thơ phái nữ đi vào lòng người đọc, được lưu lại qua sàng lọc của thời gian, đến nay vẫn khá ít. Ngoài những bất hạnh do thời thế, mất mát tài liệu sách báo do hoàn cảnh lịch sử, còn có sự thiên lệch nào chăng?

Phái nữ dễ có sự đồng cảm và gắn bó với các tác phẩm văn nghệ, nhất là với thơ ca (thơ và các ca từ mang chất thơ). Nhà văn Võ Phiến, trong bộ 20 năm Văn học Miền Nam, ở tập 1 (Tổng Quan) đã dự đoán rất vui rằng: “Cứ đà này, trong tương lai văn nghệ Miền Nam thuộc về nữ phái là các chắc”. Ông dẫn chứng: “Đầu năm 1975, nha Sinh hoạt học đường của bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên tổ chức một cuộc thi dành cho báo Xuân học đường. Có 6 giải thưởng, thì trường nữ chiếm hết 4. Giải nhất và nhì thuộc về 2 trường nữ Trung học: Gia Long (Sài Gòn), và Bùi Thị Xuân (Đà Lạt)2.

Đa số các nhật báo và tạp chí các loại ở Sài Gòn trước đây đều có các trang văn nghệ thiếu nhi, hoặc mục “bút mới”. Gửi bài viết và thơ được chọn đăng nhiều nhất là giới nữ sinh. Nhưng khi đến tuổi vào đời, khá ít các bạn trên còn tiếp tục sáng tác, hoặc trở thành nổi tiếng. Nữ giới không dễ trở thành nhà thơ, hay có điều gì đó ngăn trở? Trả lời câu hỏi này, có lẽ phải hiểu qua bối cảnh xã hội và xu hướng sáng tác văn nghệ trong thời điểm đó.

Miền Nam (xin hiểu chung là ở khu vực phía Nam) có không ít cây bút nữ cho ra mắt tập thơ đầu tay khi còn rất trẻ.

Năm 1952, cây bút nữ Huyền Chi–người giữ mục thơ của tạp chí Phụ Nữ ở Sài Gòn- đã cho in thi tập “Cởi Mở” khi cô mới 18 tuổi! Nữ sĩ Hoàng Hương Trang quê ở Huế, từ năm 12 tuổi đã làm thơ gửi đăng trên các báo ở Sài Gòn như Đời Mới, Thẩm Mỹ. Năm 1956 tròn tuổi 18, chị tự cho in tập thơ đầu tay “Khép Đôi Mi Nhỏ” tại Huế. Tập thơ này được Nxb Đời Mới in và phát hành tại Sài Gòn năm 1964.3

Từ năm 1957, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đã cho lập ra Giải thưởng Văn chương toàn quốc (GTVCTQ). Hội đồng tuyển trạch gồm các cây bút lão thành hoặc nổi tiếng của từng bộ môn. Do những biến động thời cuộc, nên đến năm 1961 giải thưởng này tạm dừng. Năm 1966, GTVCTQ trở lại công bố giải. Ở bộ môn thơ, trong 3 tác phẩm đoạt giải, thì 2 thuộc về tác giả nữ. Giải của năm 1965 thuộc về Nhã Ca với tác phẩm “Nhã Ca Mới” được Nxb Ngôn Ngữ in năm 1964; Giải năm 1966 trao cho Tuệ Mai với thi tập “Không Bờ Bến” (Nxb Sáng Tạo – 1964).

Ngọn nguồn

Tuệ Mai (1928-1983) là ái nữ của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, biết làm thơ từ lúc 9-10 tuổi và có thơ đăng báo lúc 11-12 tuổi ở Hà Nội. Thừa hưởng nếp thơ mẫu mực từ gia đình, nhưng khi trưởng thành, vào hoạt động sáng tác tại Sài Gòn, Tuệ Mai ngày càng đi vào khám phá sự phong phú của đời sống. Chị mạnh dạn diễn tả về sự giàu có của tâm hồn con người, về vai trò “chủ thể”của cá nhân. Như trong bài “Lên Tiếng”:

Là nụ cười, dù nở trên môi độc dược

tôi cũng nhìn có nét sáng tươi

là bước đi, dù trườn lối rắn

tôi cũng nghe có nhịp yêu đời…

(trích từ tập Thơ Tuệ Mai, Nxb Sáng Tạo 1962)

Vai trò “nữ quyền” trong văn học nghệ thuật được tiếp tục khẳng định:

Chợ đời vui quá đi Anh

Tôi bìa tạp chí mang hình phấn son

Bụi tung ngã rẽ đường mòn

Tôi giày da cũ đế mòn lạc đôi…

(bài Đêm Tôi- tập Như Nước Trong Nguồn, Nxb Văn Uyển 1968)

Tại buổi lễ trao giải VCTQ năm 1966, thay mặt các tác giả đoạt giải, Tuệ Mai đã thẳng thắn đọc bài phát biểu về “Tương quan giữa văn nghệ và chính quyền”:

“… Sự xuất hiện trở lại của giải VCTQ sau 5 năm vắng bóng, từ 1961 đến nay, đã mang một ý nghĩa đặc biệt. (…)

Nhưng nhìn lại quá trình sinh hoạt của học thuật, tư tưởng miền Nam hơn 10 năm qua, những người hằng quan tâm đến vấn đề này thường không khỏi bi quan:

  • Quần chúng không được hưởng thụ một đường lối giáo dục ổn định và lâu dài.
  • Thế hệ thanh niên, học sinh, nhi đồng không được bảo vệ trước những ảnh hưởng ác hại làm thui chột khả năng, và trước tình trạng đố kỵ, chia rẽ có thể làm mệt mỏi, xuống dốc đang phát hiện trong mọi ngành sinh hoạt của xã hội.
  • Trình độ văn hoá của quần chúng không được bồi đắp và dung dưỡng đúng mức, vì thiếu sót những chương trình, kế hoạch văn hoá hữu hiệu vững bền.
    (…)

Cho nên, trước bộ mặt sinh hoạt dường như nghèo nàn, buồn tẻ của giới làm văn hoá hiện nay – chúng tôi, đứng trên bình diện của những người cầm bút tha thiết mong mỏi một sự quan tâm đặc biệt của tất cả mọi người, tất cả mọi giới, kể cả chính quyền, văn nghệ và độc giả quần chúng, đến vấn đề thiết yếu này. Công cuộc phát triển văn học nghệ thuật trong giai đoạn mà lịch sử dân tộc đang tiến vào một khúc quanh vô cùng quan trọng, phải được thúc đẩy mạnh mẽ và thúc đẩy thường xuyên.

Riêng với vai trò văn nghệ sĩ, chúng tôi xin trân trọng xác nhận một lần nữa, trách nhiệm của người cầm bút đối với quần chúng và lịch sử”.

(…)

“…Văn nghệ sĩ đem CHÂN, THIỆN, MỸ vào tác phẩm để cung ứng cho nhu cầu tinh thần của độc giả ngõ hầu nâng cao giá trị nhân bản. Như vậy lãnh vực hoạt động của văn nghệ sĩ thật là rộng lớn và trách nhiệm của họ đối với dân tộc, lịch sử thật là nặng nề, quan trọng”.

Toàn văn bài phát biểu này được đăng trên bán nguyệt san Văn số 72 ra ngày 15-12-1966 (Văn là một tạp chí thuần tuý về văn chương). Thông tin cho thấy ý kiến của nữ sĩ Tuệ Mai đã không bị các quan chức có mặt phản bác tại chỗ. Nhiều độc giả lúc bấy giờ đã cho rằng nữ sĩ hiền hậu này đã làm một cuộc “hoá thân” ngoạn mục: Nhà nghệ sĩ sáng tác đã lên tiếng đưa ra những yêu cầu mang tính chính trị-xã hội sâu sắc.

“Hoá Thân” là tên dịch tác phẩm tiếng Đức “Die Verwandlung”, xuất bản năm 1915 của Frank Kafa (1883-1924), một nhà văn gốc Do Thái, sinh sống ở nước Czech. Nhiều nhận định cho rằng Franz Kafka là một trong những nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới trong thế kỷ 20 (Tháng 3-2018 tại Việt Nam đã diễn ra chuỗi sự kiện Festival Kafka ở Hà Nội).

Cùng với chủ nghĩa hiện sinh, tác phẩm Hoá Thân giúp người đọc nhận ra sự phi lý, và thân phận bé nhỏ của con người trong các mối quan hệ xã hội, tôn giáo và vũ trụ. Tác giả Kafka và những trào lưu của chủ nghĩa hiện sinh đã được các giáo sư đại học, các nhà nghiên cứu, đề cập, giới thiệu trên các tạp chí “gối đầu giường” của giới trí thức miền Nam lúc này. Tạp chí Bách Khoa, số 1 năm 1957, Tạp chí Đại Học (ở Huế) số 11-1959, và sau đó, các tạp chí văn nghệ ở Sài Gòn như Sáng Tạo, Văn Học… đã có những bài viết về các tác phẩm của Kafka. Bán nguyệt san Văn sau những bài dịch truyện “Hoá Thân” in nhiều kỳ, trong năm 1965 đã dành hẳn số 39 làm chuyên đề về F. Kafka và tác phẩm “Hoá Thân”. Tập truyện vừa Hoá Thân do Vũ Hạnh Chương Ngọc chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp đã xuất bản vào 1966. Sách được giới sinh viên, thanh niên có học chuyền tay đọc và bàn luận về những tình cảnh “hoá thân” của con người hôm nay.

Xuất phát từ tư tưởng hiện sinh và triết lý về sự phi lý trong các tác phẩm của F.Kafka, hai chữ “hoá thân” từ đầu những năm 1960 đã trở thành một ngôn từ thời thượng. Nó biến hoá ra nhiều nghĩa, tựu trung là cổ vũ cho sự vượt thoát của tâm hồn trước những vòng vây tôn giáo, xã hội .v.v. Số đông người đọc hiểu theo nghĩa đen: hoá thân là biến thành vật thể khác, hoặc phải diễn những vai không phù hợp lắm trong vở kịch đời. Nhà thơ Viên Linh cũng rất thành công khi dùng 2 từ này làm nhan đề cho tập thơ đầu tay do Nxb Văn Nghệ in năm 1964. Dấu ấn “hoá thân” cũng thể hiện khá rõ nét ở các sáng tác của một nhà thơ nữ thời danh lúc bấy giờ: Nhã Ca.

Từ “tủi phận” đến “ngợi ca” thân xác

Nhã Ca tên thật là Trần Thị Thu Vân, sinh năm 1939 ở Huế. “Nhã Ca Mới” là tập thơ đầu tiên, mang bút danh lúc này là Trần Thy Nhã Ca, được in năm 1964 với lời tựa của nhà thơ Nguyên Sa. Năm 1972, NXB “Tủ sách Thương Yêu” cho in lại toàn văn tập Nhã Ca Mới, có bổ sung thêm những bài thơ mà tác giả làm sau đó, nên sách mang tựa đề “Thơ Nhã Ca”.

Học trường nữ trung học Đồng Khánh, đến năm 19 tuổi người thanh nữ này đã tự vào Sài Gòn để theo nghiệp văn chương:

Đứa trẻ gái ra đời mang vết thẹo cô đơn

Giữa thời không đói không no không mùi vị

Tôi sống tự do trong thân thể mình

Nghe vết thẹo lớn dần và mọc rễ

(Bài “Vết Thẹo”)

Tại Sài Gòn, nhà thơ đã gặp và yêu, đến năm 1961 kết duyên vợ chồng với Trần Dạ Từ, một nhà thơ trẻ gốc miền Bắc di cư. Họ đã cho nhau những bài thơ tình độc đáo. Nhưng Nhã Ca vẫn “hoá thân” thành người con gái khổ đau trong cuộc tình, làm ra những bài thơ tình độc đáo.

(…)

Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài

Khuya chìm trong tiếng khóc tương lai

Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối

Tôi mất thời gian lỡ nụ cười

Đời sống ôi buồn như cỏ khô

Này anh, em cũng tợ sương mù

Khi về tay nhỏ che trời rét

Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ.

(Bài “Thanh Xuân”)

Nổi danh cùng thời với Nhã Ca có Nguyễn Thị Hoàng, cũng sinh năm 1939 ở Huế nhưng trưởng thành tại Nha Trang. Trước khi nổi tiếng là một nhà văn nữ, chị đã cho in 2 tập thơ: “Sầu Riêng” (1960) và “Kiếp Đam Mê” (1961). Dù đã ngợi ca về hoan lạc ái tình, như “Trong cơn chăn gối rã rời / Im nghe từng chuyến xe đời đi qua… (bài “Trong Cơn Chăn Gối”), chị vẫn than thở để níu kéo tình nhân, và tủi thân tủi phận: “Chi rạ rứa chiều ni tui muốn khóc / Ngó chi tui đồ cỏ mọn hoa hèn…” (bài “Chi Lạ Rứa”).

Nhưng với Nhã Ca, để chấm dứt những khổ đau và thua thiệt trong ái tình, nàng đã đứng ra tôn vinh ái đẹp của nữ giới. Bài thơ dài “Đàn Bà Là Mặt Trời” nêu rõ niềm kiêu hãnh này:

(…)

Chúng ta, mỗi người phải là một nàng công chúa

Người đàn bà nào cũng đẹp

Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta

Chúng ta ban phát ái tình

Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi…

Bằng sự mô tả thân xác, lời thơ muốn nhấn mạnh về sức mạnh của phụ nữ. Rất hiện thực và mới mẻ:

Hỡi các chị hãy đến đây và làm điên đảo

sự quay cuồng vui thú của trái đất

Chúng ta luôn luôn xinh đẹp và ở trên cao

Các chị có đôi vú ngọc bích

Có da sữa, tóc dài

Có má hiền, môi mật….

(…)

Cảm ơn thượng đế đã cho tôi đôi vú

cho tôi da mịn và tóc dài

cho tôi rực rỡ như mặt trời

Để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt tràn trên trái đất…

Cũng là nữ sinh Đồng Khánh như Nhã Ca, nhưng Hoàng Hương Trang lại có cung cách hoạt động khá đa dạng .Những biến động trong đời sống và kiến thức xã hội tích hợp trong tâm hồn đã giúp ngòi bút này trải nghiệm và hoá thân qua nhiều khuynh hướng, từ lãng mạn, trữ tình nhẹ nhàng, qua thể loại trào phúng rồi quay về tự sự, độc thoại nội tâm. Năm 1972 thi tập “Tuý Ca” (Nxb Huyền Trân- Sài Gòn) xuất hiện khiến giới làm thơ cả cũ mới đều kinh ngạc! Nhưng người phụ nữ này không phải say sưa bét nhè như nam giới:

Tình yêu làm chết con người

Nâng ly độc dược tôi mời tôi say…

(bài Tuý ca 10)

Tác giả tập “Thơ Say” thời tiền chiến là thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nay đã viết bài thơ “Cảm đề Tuý Ca” đề tặng Hoàng Hương Trang:

…Say ai? Mình chỉ say mình đó thôi

Tuý ca, bè đã thả rồi,

Tuý hương xưa hãy cùng trôi ngược về…

Phải chăng người nữ sĩ này chỉ tự “say mình”, như sự phát hiện của nhà thi sĩ tiền bối? Không hẳn đâu! Bà đã tự thổ lộ trong bài thơ Ngục tình (bài Tuý ca 5):

Ngục nào giam kín đời ta

ngục nào khoá chặt xót xa tim này

ngục nào ngút cháy cơn say

ngục nào chết lặng những ngày đam mê

ngục nào đày đoạ ê chề

ngục nào hành xác chán chê mỏi mòn

ngục nào tăm tối hơn đêm

ngục nào giá buốt con tim máu hồng

ngục tình lặng ngắt mùa đông

anh giam em mãi đừng hòng thoát ra.

Các cây bút trước và sau thời tiền chiến (1932-1945), cùng lắm chỉ viết “hôn nhân là địa ngục”, nhưng Hoàng Hương Trang, trong xu thế “yêu cuồng”, “sống hết mình” theo chủ nghĩa hiện sinh, lại diễn tả “tình yêu là ngục thất”. Nhưng cái “ngục tình” hạnh phúc ấy chính là một thứ men làm người nữ thấm say hơn rượu!

Nhiều nhà thơ nữ nổi tiếng và có xu hướng “hoá thân” ở giai đoạn 1954-1963 tại miền Nam vốn xuất thân từ Huế. Nhà văn-Giáo sư Bửu Ý đã giải thích vì sao đất Huế sớm tiếp cận với chủ nghĩa hiện sinh qua bài trả lời phỏng vấn “Nhìn lại đời sống Văn nghệ miền Nam giai đoạn từ 1954-1975” đăng trên tạp chí Sông Hương số đặc biệt ra ngày 24-3-2017.4

Nữ quyền

Những tạp chí văn nghệ hàng đầu ở miền Nam trước và sau 1960 như “Sáng Tạo”, “Hiện Đại”, “Văn Nghệ”… đã chủ xướng “cách tân” thơ từ cú pháp đến từ ngữ. Nhưng liền đó, nhất là từ sau biến cố chính trị 1963, nhiều người làm thơ bỗng quay lại khuynh hướng trữ tình êm dịu, sử dụng các thể thơ truyền thống. Tình cảm được diễn tả rất dung dị, để ai cũng có thể đọc, hiểu và cảm xúc. Bên phái nam là Nhất Tuấn với các thi tập “Truyện Chúng Mình”5; bên nữ giới là 5 tập thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” của Lệ Khánh được NXB Khai Trí cho in liên tục từ năm 1964-1966. 6

Lệ Khánh tên thật là Dương Thị Khánh, sinh năm 1944, quê gốc ở Thừa Thiên nhưng theo cha mẹ lên sinh sống ở Đà Lạt. Khi cho in các tập thơ này, cô đang là nhân viên Toà hành chính tỉnh, được nhiều chàng trai tìm, đeo đuổi. Thì ra nhà thơ nữ này muốn “hoá thân” làm một cô gái “trời bắt xấu” cho tiếng thơ bay rộng. Những bài thơ của Lệ Khánh đều có tiêu đề dung dị như: “Lỡ Chuyến Đò”, “Biết Thế Em Lấy Chồng”, “Người Đợi Thư Anh”, “Cũng Đành”… Những lời thở than, hẹn hò yêu thương rất nồng nàn như trong đời thường. Nhưng cô gái làm thơ này lại dám nói thực lòng là đã…sống cho mình: Lỡ yêu người có vợ con/ Thì đừng nói chuyện sắt son mà buồn. Cô không xúi người yêu …bỏ vợ để cô…giựt chồng – điều trái luân thường, dễ bị dư luận lên án. Cô chấp nhận… dâng hiến để gặt hái nỗi buồn và … làm thơ:

Vòng tay anh, chắc giờ đây quá chật?

Ôm vợ hiền, ôm con dại…còn đâu

Vâng còn đâu người con gái đến sau

Thương, nhớ, tiếc…sao ngỡ ngàng biết mấy?

(bài Vòng Tay Nào Cho Em)

Giới phê bình ở các tạp chí văn nghệ “trí thức” hầu như đã cho rằng thơ Lệ Khánh giống như những bài nhạc “sến”, không đáng bình luận. Đó là một bất công và phiến diện, vì kĩ thuật, vần điệu từng bài của chị khá điêu luyện. Trong thể loại lục bát, nhờ nhịp điệu từ ngữ nên các âm vần dù không chuẩn 100% nhưng không thấy sự gượng ép. Không mang hơi hướm ca dao, nhưng thơ Lệ Khánh cũng…êm xuôi, dễ thuộc, dễ cảm. Chị được đông độc giả yêu thích. Có lẽ đây là những điều cần bàn thêm về vai trò cũng như quyền thưởng ngoạn thơ ca của công chúng!

Nói gì đi nữa, sự xuất hiện của Lệ Khánh trong nửa đầu thập niên 60 cũng cho thấy những yêu cầu về quyền tự do biểu đạt của giới nữ trên lãnh vực văn học nghệ thuật. Trong chế độ cộng hoà, cùng với các trào lưu đòi nữ quyền, người phụ nữ đã có các quyền ứng cử, bầu cử, trở thành quân nhân, viên chức, “bình đẳng” với nam giới. Nhưng thực tế xã hội miền Nam, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, lúc này cho thấy: phụ nữ vẫn còn đóng vai trò “phụ thuộc”. Nam giới nào hưởng lương của chính phủ thì hưởng thêm tiền “phụ cấp” về lương vợ, lương con. Ngược lại, phụ nữ thì không được! Trong lãnh vực văn nghệ, hầu như các báo và tạp chí đều ít nhiều “trầm trồ” khi đăng bài, giới thiệu cây bút nữ mới… Người phụ nữ cầm bút được cho là chuyện lạ, đáng lưu tâm!

Đành rằng những Tuệ Mai, Nhã Ca, Hoàng Hương Trang… sớm khẳng định được tên tuổi là nhờ tài năng, nhưng trong làng văn, có người vẫn nghĩ: các cây bút nữ nổi tiếng là nhờ có những “thuận lợi” trong mối quan hệ xã hội, hoặc có người “đỡ đầu.”

Tháng 10-1965 quyền tự do biểu đạt bằng sáng tác thơ của nữ giới một lần nữa được chứng minh, bằng thi tập của một một nữ sinh viên trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn: Hồng Khắc Kim Mai. Cây bút này sinh năm 1945 tại Huế và theo học chương trình trung học bằng Pháp ngữ ở Đà Nẵng và Sài Gòn. Cô làm thơ bằng tiếng Việt và tiếg Pháp từ năm 1959 nhưng thảng hoặc mới được chọn đăng trên Phổ Thông, một tạp chí văn hoá do nhà thơ Nguyễn Vỹ sáng lập. Lúc vào trường Đại học Văn Khoa, cô đã tự tập hợp các sáng tác, tự đến sở kiểm duyệt xin phép xuất bản tác phẩm đầu tay: “Màu Mắt Nâu”. Trong tập, có những câu thơ biểu đạt mạnh mẽ cảm xúc của người con gái từ tuổi dậy thì, qua những câu như: Chớm dậy thì/ Lớp măng mọc/ Bày đặt học viết chữ Yêu/ Trên trang giấy sông Hàn/ Làm thơ tình thạch nhũ… (bài thơ “Tỏ Tình”- ghi sáng tác năm 1959, lúc tác giả 14 tuổi)

Tới tuổi trưởng thành, với Hồng Khắc Kim Mai, tình yêu hoà lẫn cùng nhục thể:

Khi người áp môi chuyền tai ta hơi thở

Ta rúng người da say mùi cỏ dại

Ta dang mồm ưng nuốt cả trời mây

Ta đê mê nghe tim rớt vỡ hoang đầy

Ta cuồng dại rên tên người trong tiếng khóc

Môi ta khô ran mắt ngời sao lửa bốc

Ôi tình yêu ôi tin yêu vàng ngọc

Hồn ta quằn quại sảng khoái tới thịt xương

Người hãy ghì ta thêm chút nữa

Để thân ta loé hào quang say sưa giòng mật ngọt

Để ta ru giấc đời bằng tất cả trời cho

Khí huyết hai mươi sùng sục phút trào no

Ta đam mê trong đường gân rung rung giờ tuyệt diệu

Ôi tình yêu, ôi cơn ngất ngư trào dâng như sóng biển

Ta núc cạn rồi mà mấy cũng chưa bưa

Rót cho ta bao nhiêu tinh tuý cũng chưa vừa

Ta thèm khát chắp môi hoài trong vạn đợi

(bài Yêu- thi tập Màu Mắt Nâu)

“Màu Mắt Nâu” được chuyền tay khá rộng trong giới sinh viên. Giáo sư Nguyễn Văn Trung được tặng đã rất trân quý tác phẩm này 7. Nhưng có thể do “thiếu mối quan hệ” nên tác phẩm cũng như tác giả không xuất hiện nhiều trên các tạp chí văn chương.

Sau biến cố chính trị 1963, để chứng minh thể chế dân chủ, nên các nhóm thế lực khi nắm chính quyền đã dễ dàng cấp phép báo chí. Bán nguyệt san Văn ra đời vào đầu năm 1964 được xem là tờ tạp chí văn nghệ có chất lượng, vì sự công tâm, và không có thành kiến về xu hướng sáng tác, không bè phái…Tạp chí dành nhiều “đất” để giới thiệu các tác phẩm chất lượng của các cây bút mới. Giới cầm bút trẻ lúc này ngầm bảo rằng có tác phẩm được đăng trên Văn, coi như đặt được một chân vào đường văn học.

“Hoá thân” làm nhà thơ nữ

Khá nhiều cây bút mới có bút danh như thuộc nữ giới, đã xuất hiện lần đầu và nhiều trên tạp chí này. Có thể kể ra, như Phan Thị Thảo Trang (Văn số 05), Quỳ Hương (số 13), Bùi Thị Nghi Trang (số 16), Trần Thuỵ Gioan (số 25), Tôn Nữ Hoài My (số 27), Trần Như Liên Phượng ( số 28), Nguyễn Thị Thuỳ Mỵ, Nguyễn Thị Hà (số 45), Từ năm 1966 trở đi có them Hoàng Thị Thuỷ Tiên, Hoàng Thị Bích Ni, Nguyễn Thị Trầm Kha, Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Thị Thu Sương… Lại có là những bút danh… “hao hao” phái nữ, như Hoàng Yên Trang, Hoài Tuyết Trang, Yến Nguyên Thanh, Trầm Vân…

Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca đã dần dần bớt làm thơ để chuyên viết văn xuôi. Các cây bút nữ được Văn và nhiều tạp chí khác chọn đăng thơ là gặp thời, tiếng tăm sẽ lên cao như diều gặp gió chăng? Bất ngờ là không lâu sau đó, chính các tạp chí lại công bố, hoặc các “nhà thơ nữ” mới được “lăng xê” đã đứng ra tự nhận mình là…nam giới. Trên tạp chí Văn, Bùi Thị Nghi Trang, đến số 24 tự giản lược tên thành Bùi Nghi Trang. Trần Thuỵ Gioan sau đó lộ diện là Mường Mán; Tôn Nữ Hoài My đã dùng tên thật là Võ Tấn Khanh; Trần Như Liên Phượng tự công khai đó là một bút hiệu của Nguyễn Nho Sa Mạc, và thổ lộ đó là tên một nữ sinh mà anh say đắm! Nguyễn Thị Thuỳ Mỵ nổi tiếng với 2 bài thơ đầy nữ tính là “Cho chồng đã chết, cho con” và “Khóc Y Uyên” trên Văn đầu năm 1966, thì không lâu sau đó, khi đứng ra chủ biên tạp chí Nhìn Mặt tại Quy Nhơn, đã công khai tên thật là Đặng Hoà. Hoàng Thị Thuỷ Tiên cũng chuyển sang ký tên thật là Hoàng Ngọc Châu, và cho biết đó là tên người yêu! Dịch giả Nguyễn Kim Phượng “bật mí” cùng bạn hữu rằng lúc làm thơ, ông cùng vợ là Hoàng Thị Bích Ni ký chung bút danh nữ… Các “nhà thơ nữ” đã dần dần ít xuất hiện hơn trên các tạp chí văn nghệ.

Liệu Ban tuyển đọc tác phẩm hoặc người cầm chịch việc chọn, đăng bài có thiên vị khi gặp bút danh nữ trên bài lai cảo?

Bởi thượng đế sinh chúng ta không mặc quần mặc áo

Em nói yêu anh hết sức vội vàng

Bởi vì mẹ sinh con thiếu ngày thiếu tháng

Nên nghĩ rằng con sẽ chết theo cha…

(Nguyễn Thị Thuỳ Mỵ- bài Cho Chồng Đã Chết, Cho Con-Tạp chí Văn 1966)

Đó là bốn câu mở đầu của bài thơ diễn tả thân phận ngặt nghèo của người phụ nữ trong đất nước chiến tranh. Đau khổ thì rất đau khổ, hay thì có hay thật, nhưng nếu đem ra suy xét, ít có người phụ nữ nào lại đưa ra hình tượng ví von nghiệt ngã như vậy. Ban tuyển chọn của tạp chí Văn từng cho biết: Chỉ coi trọng chất lượng sáng tác gửi đến, chứ không đặt nặng tác giả là nam hay nữ. Nếu thật vậy, quả là điều đáng mừng.

Khoảng năm 1968, thơ Tần Vy đầu tiên xuất hiện trên tuần báo Nghệ Thuật (ở những số cuối cùng trước khi đình bản), và sau đó thường xuyên trên tuần báo Khởi Hành (cả 2 tờ này đều do nhà thơ Viên Linh làm thư ký toà soạn). Nhiều độc giả lưu tâm vì đang lúc nhiều người làm thơ quay lại với các thể thơ truyền thống (lục bát, bảy chữ, tám chữ, năm chữ, bốn chữ…) thì cây bút mới nhiều nữ tính này lại theo thể thơ tự do. Thơ Tần Vy có nhiều hình ảnh siêu thực mà vẫn tạo nên nét đẹp. Nhưng không ít người viết trẻ quả quyết đây lại là một người nam, “giả” làm thơ nữ. Một đoạn thơ gây ấn tượng của Tần Vy:

Tôi nhắm mắt làm bóng tối

Buồn tỉnh khô trên mặt dửng dưng

Tình ái đảo điên vô tình từ biệt

Áng bụi mờ trăng hiển hiện mù khơi

Cuối góc phố một vì sao băng

Ước vọng âm thầm và bất lực

Trong linh hồn trong cảm nghĩ đầy sự điên cuồng

Đêm trống rỗng như một lỡ làng không còn ai tiếp nối…

(bài “Trong Đêm”-Tạp chí Văn số 125-năm 1969)

Cùng với tuần báo Khởi Hành, báo Văn cũng in nhiều thơ Tần Vy. Giữa thời đại cuồng xoay, nỗi hoang mang của tác giả này mang nhiều nữ tính. Mà Tần Vy đúng thật là một nhà thơ nữ.

Chọn đăng thơ Tần Vy liên tiếp là trên nhiều kỳ báo là một trong những thành công tiếp nối của vị thư ký toà soạn Viên Linh- người được cho là có “mắt xanh” khi chọn đăng những bài thơ đầu tiên của một số cây bút trẻ tài năng. Nhưng đến khi “lăng-xê” Lê Thị Tư trên 2 tạp chí Khởi Hành rồi Thời Tập, thì ông đã “bé cái nhầm”.

Lê Thị Tư gần như chuyên làm lục bát. Hơi thơ cho thấy đây là có thể là một người nữ: “Tay dù che nắng chiều nghiêng/ Biển đông người chật, chàng riêng bước dài…Tới đây ta tới lúc chiều/ Thấy chàng đứng đó hồn xiêu phách buồn/ Ta thầm kêu gọi ta luôn/ Lỡ thân một chuyến trăm nguồn cơn đau.” (bài “Chiều Trên Bến Đò Mỹ Thuận”). Nhưng đôi khi, tác giả lại cố tình tiết lộ mình là một bậc mày râu: “Với trăng vườn áo em vàng/ Với mây nhớ tóc, suối đàn tiếng gieo/ Lòng đương hoa nở bên chiều/ Chuốc vui rượu đắng đã liều cơn say… (bài “Gửi Cẩm Lim xa”).

Nhìn chung, Lê Thị Tư được đăng nhiều thơ vì mang bút danh nữ, chứ tác phẩm chưa tạo được bản sắc riêng. Sau 1975 mới lộ ra rằng đó là một bút danh của nhà thơ Nguyễn Bạch Dương ở Vĩnh Long (sau 1990, ông đã vào Hội Nhà văn VN, mất vì bạo bệnh 2006)! Lúc sinh thời, Nguyễn Bạch Dương đã giải thích nguyên do: lúc đó đang đào ngũ, phải sống trốn tránh. Nếu cứ cho đăng thơ với bút danh cũ thì rất dễ…bị lộ.

Vinh danh các nhà thơ nữ

Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn từng có bài tuỳ bút nhan đề “L.L.Lan” viết về tác giả bài thơ “Năn Nỉ” mà ông từng đọc loáng thoáng trên một tạp chí nào đó năm 1959 8 . Bài thơ này được nhạc sĩ Phạm Duy đem phổ nhạc năm 1967 dưới tựa đề “Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài”. Toàn văn lời thơ:

Tôi đang mơ giấc mộng dài

Đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh

Tôi đang nhìn thấy màu xanh

ở trên cây cỏ rất lành rất thơm

tôi đang nhìn thấy màu hồng

của tôi thay đổi luôn luôn theo trời hoàng hôn máu thắm mây tươi

bình minh nắng trắng ấm trôi vào lòng những vì sao tím rất trong

mảnh trăng vàng rỡ chờ mong tôi nhìn tôi đang nhìn thấy trong tim

tình yêu bay những con chim tuyệt vời đừng lay tôi nhé, cuộc đời

tôi còn trẻ quá cho tôi mơ mòng.

Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn cho rằng lời bài thơ “bình dị quá, tự nhiên quá, trong sáng quá, và sau cùng: con gái quá”. Ông cho rằng thơ nữ hay chính là ở chỗ “nữ tính” của nó! Nhận định trên hoàn toàn chính xác, nhưng là người vốn tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, và hay suy ngẫm triết lý, ông đã rất chủ quan khi cho rằng “sau cái thao thức muôn đời của tình yêu, có lẽ Lan đã đi sâu vào cái hoang tịch muôn đời của kiếp sống”.

Cái hay, cái đẹp của thơ phụ nữ không nhất thiết phải có xu hướng khoắc khoải, băn khoăn về vũ trụ hay cuộc đời. Như đã nhắc qua ở đoạn đầu bài, vào năm 1952 ở Miền Nam, khi được Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Thuyền Viễn Xứ, cái tên Huyền Chi liền nổi tiếng. Bài thơ này được nhạc sĩ phát hiện và đồng cảm khi tình cờ khi ghé nhà in Sống Chung gần chợ Bến Thành, nơi Huyền Chi đến in sách.

Có thuyền viễn xứ Đà Giang

Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa

Hò ơi! Câu hát ngàn xưa

Ngân lên trong một chiều mưa xứ người

Đường về cố lý xa xôi

Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang…

Năm ấy Huyền Chi vừa tròn 18 tuổi. Những gì cô nghe, biết về quê hương Bắc Ninh và dòng sông Đà là qua lời kể của người thân trong gia đình. Trí tưởng tượng của cô gái có tâm hồn yêu quê hương đã giúp cô cảm xúc, làm ra bài thơ hay. Sự thành công ấy thể gọi đó là “của trời cho”, như bao nhiêu thi sĩ từng thổ lộ khi có được một sáng tác “xuất thần”. Dư luận thật không công bằng khi cho rằng L.L.Lan hoặc Huyền Chi chỉ là thi sĩ của “1 bài”. Huyền Chi, sau tập thơ đầu tay, đã lấy chồng và ra sống ở Phan Thiết. Bà tự mình gác chuyện văn chương để lo cho chồng và bầy con nhỏ. Khi bản nhạc Thuyền Viễn Xứ ra đời, mặc dù trên bản nhạc in giấy phát hành rộng rãi, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi câu hỏi để tìm kiếm: “Huyền Chi, cô ở đâu?”. Tác giả lời thơ phổ nhạc mặc dù có đọc được, nhưng cũng không bận tâm trả lời, chỉ vì sợ vương vấn đến công việc gia đình! Sau 1975 gia đình bà về sinh sống ở Sài Gòn.

Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn và nhạc sĩ Phạm Duy đều khẳng định hồi 1959-1960 L.L.Lan đã làm được khoảng 300 bài thơ. Sau đó, không hiểu vì lý do gì, cô đã ngừng bút. Hồng Khắc Kim Mai, sau tập thơ tự in cũng không thấy xuất hiện trên các báo hay tạp chí.

Đặc điểm chung của phần lớn các nhà thơ nữ miền Nam trước 1975 là họ không cần phải so đo về vị trí “chiếu trên, chiếu dưới” như đa phần người cầm bút thuộc phái mạnh. Các chị cũng rất ít tham gia tranh luận về bút pháp, nghệ thuật thơ. Thơ nữ cứ lẳng lặng đi sâu vào lòng người đọc.

Thế giới bước vào thời đại kỹ thuật số. Người đọc vui mừng gặp lại những cây bút nữ một thời. Huyền Chi đã mở một trang Facebook với “nick name” Khánh Ngọc. Đến đầu 2019 chị đã cho in tập văn xuôi “Huyền Chi và Thuyền Viễn xứ-Nxb Hội Nhà văn) kể chuyện ngày xưa. Gần đây, có một số trang Web ở nước ngoài có giới thiệu Hồng Khắc Kim Mai là tác giả của nhiều bài thơ được phổ nhạc; và có một số nhạc phẩm do chính chị ký âm!9. L.L.Lan sau 1975 đã định cư ở Mỹ, nay cũng đã mở trang Web riêng, 10 tập hợp lại những bài thơ cũ và giới thiệu những bài thơ mới viết cho con gái. Với những bài thơ cũ, L.L.Lan tâm sự ngắn gọn: “Hình thức rất xưa, ý cũng không mới…nhưng xin cứ theo lối mòn qua vườn lan thi hôm nay để về những nẻo xa chưa tới, những chốn mênh mông, những cõi đìu hiu, hay những trời hiu quạnh của tâm hồn tôi.”

Đáng nể phục và đáng trân trọng thay, những người phụ nữ làm thơ! Đến nay, trải qua nhiều năm tháng, những công trình sưu tập về thơ miền Nam trước 1975 ở nước ngoài (như của NXB Thư Ấn quán) cũng không quan tâm lắm việc chú thích những bút danh nữ hồi đó là nữ thật hay giả.

Ý kiến chung là: Cảm nhận một bài thơ, chỉ nên kết luận bằng một trong 2 chữ: “hay” hoặc “dở”! Không quá thiên lệch về phái tính của người viết, là sự công bằng khi thưởng thức hay nghiên cứu văn học, văn chương. Những tên tuổi như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Anh.., và những Anh Thơ, Ngân Giang, Xuân Quỳnh… đến nay vẫn sừng sững trong di sản văn học Việt Nam. Trước tiên là vì chất lượng tác phẩm.

page271image49024960

Chú thích

  1. Tên thật: Văn Hưng, nhà thơ, nhà báo. Email: hungvansg@gmail.com
  2. Võ Phiến, 20 năm Văn Học Miền Nam, Tổng quan, trang 46, Nxb Văn Nghệ California-USA 1988
  3. Hoàng Hương Trang sinh năm 1938, tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Huế (1957-1961), học tiếp khoa Sư phạm Mỹ thuật tại Sài Gòn. Có nhiều triển lãm tranh cá nhân, và là diễn viên ngâm thơ nổi tiếng! Được kích tác gia Vi Huyền Đắc nhận làm con nuôi. Bà còn viết truyện dài, phóng sự, truyện thiếu nhi và những bài đọc sách trên nhiều nhật báo… Năm 1976 thi sĩ Vũ Hoàng Chương giao bà lưu giữ 12 bài thơ di cảo.
  4. Tham khảo:http://tapchisonghuong.com.vn/hue/p0/c107/n25459/Buu-Y-nhin-lai-do-i-so-ng-van-hoc-mien-Nam- giai-doan-tu-1954-1975.html
  5. Truyện Chúng Mình của Nhất Tuấn có 5 tập. 3 tập đầu do tác giả tự xuất bản từ 1959-1963, đến 1964 Nxb Khai Trí cho tái bản và đặt tác giả làm thêm 2 tập nữa)
  6. Sau 5 tập Em Là Gái Trời Bắt Xấu, Lệ Khánh còn xuất bản 2 tập thơ tiếp theo: Vòng Tay Nào Cho Em (1966), Nói Với Người Yêu (1967).
  7. Tham khảo: http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=58918
  8. Xem Tạp chí Bách Khoa số 307 ngày 15-10-1969.
  9. Tham khảo: http://www.gocong.com/forums/forum_posts.asp?TID=195&PN=2
  10. Tham khảo: myllanonline.com
    Bài viết đã được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia Văn học và giới, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 10/2019.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *